Trong quá trình xây dựng
phát triển, ngành thống kê Việt Nam đã từng bước trưởng thành, phục vụ đắc lực
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo yêu cầu của Đảng và Nhà nước qua
từng giai đoạn.
Những ngày đầu khi mới
thành lập, mặc dù cơ cấu tổ chức còn rất đơn giản, số cán bộ ít và trình độ
nghiệp vụ chuyên môn còn nhiều hạn chế nhưng Nha Thống kê Việt Nam đã vượt qua
muôn vàn khó khăn, tự đào tạo nghiệp vụ chuyên môn, vừa triển khai các hoạt
động thu thập, tổng hợp thông tin phục vụ Đảng, Chính phủ và các Liên khu chỉ
đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và kiến quốc. Trong thời kỳ này, Nha Thống
kê Việt Nam đã biên soạn được báo cáo tổng hợp tình hình kinh tế - xã hội hàng
tháng của vùng tự do và vùng mới giải phóng, báo cáo phân tích kinh tế 3 năm 1947-1949,
báo cáo chuyên đề về giảm tô, giảm tức, xây dựng tổ vần công, đổi công ở vùng
tự do. Ngoài ra, ngành Thống kê còn tiến hành một số cuộc điều tra chuyên môn,
trong đó có cuộc Điều tra nông thôn 1951-1952 đánh giá thực trạng và tiềm năng
của nông thôn để Đảng và Chính phủ có đầy đủ thông tin đề ra quyết sách bồi
dưỡng và huy động sức dân góp phần tạo nên chiến thắng trong chiến dịch Thu
Đông 1953 và chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.
Giai
đoạn 1954-1975, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và cùng
miền Nam đấu tranh thống nhất đất nước. Đây là thời kỳ ngành Thống kê tập trung
nguồn lực xây dựng bộ máy và cơ sở vật chất kỹ thuật, đào tạo cán bộ, nghiên
cứu phương pháp nghiệp vụ và định hướng hoạt động thống kê phù hợp với tình
hình, nhiệm vụ mới. Đến cuối năm 1957, hầu hết các tỉnh và thành phố trực thuộc
Trung ương của miền Bắc đã có cơ quan thống kê địa phương.
Mặc dù số cán bộ ít và
trình độ chuyên môn còn hạn chế, nhưng Cục Thống kê Trung ương trong những năm
1956-1965 và Tổng cục Thống kê những năm sau đó đã phối hợp với thống kê địa
phương và thống kê các Bộ, ngành xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia,
xây dựng và thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ, chế độ ghi chép ban đầu,
tiến hành Tổng điều tra dân số và một số cuộc điều tra chuyên môn. Trên cơ sở
đó, ngành Thống kê đã cung cấp thông tin phục vụ các cấp, các ngành xây dựng,
quản lý và điều hành nền kinh tế và xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội.
Một nhiệm vụ quan trọng
của ngành Thống kê trong thời kỳ này là tham gia xét duyệt và công bố kết quả
hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước hàng năm đã được Ngành thực hiện tốt.
Qua đó đã góp phần giúp Đảng và Nhà nước đánh giá sát tình hình thực hiện các
chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, làm cơ sở để xây dựng các kế
hoạch tiếp theo.
Từ cuối những năm 1960,
nhận thức được tác dụng của cơ giới hóa và tự động hóa trong công tác thống kê,
ngành Thống kê đã xây dựng đề án “Cải tiến kỹ thuật tính toán, từng bước cơ khí
hóa và tiến lên tự động hóa công tác tính toán ở Việt Nam” và được Chính phủ
phê duyệt tại Nghị quyết số 168/CP ngày 25/11/1968. Thực hiện đề án này, ngành
Thống kê đã sớm đưa công nghệ thông tin vào công tác thống kê. Đầu những năm
1970, Tổng cục Thống kê đã xây dựng được các trạm máy tính ở Trung ương và
nhiều địa phương, góp phần đáng kể trong việc đẩy nhanh tốc độ và tính chính
xác trong xử lý kết quả các cuộc điều tra và lập các báo cáo thống kê, cung cấp
thông tin kịp thời cho các cơ quan Đảng và Nhà nước. Trong thời kỳ này, ngành
Thống kê tự hào là ngành được trang bị hệ thống máy tính hiện đại hàng đầu ở
nước ta.
Năm 1975, miền Nam hoàn
toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Để thu thập, tổng hợp thông tin trên phạm
vi cả nước, ngành Thống kê đã nhanh chóng thành lập, kiện toàn tổ chức Cục
Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở miền Nam với nòng cốt là cán
bộ thống kê có năng lực, kinh nghiệm điều động từ Tổng cục Thống kê và các Cục
Thống kê miền Bắc. Hàng trăm cán bộ của Tổng cục Thống kê và các Cục Thống kê
tỉnh, thành phố phía Bắc đã tình nguyện lên đường vào công tác tại các địa
phương phía Nam vì sự phát triển của ngành Thống kê. Đến cuối năm 1977, tất cả
các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương ở miền Nam đều đã có cơ quan thống
kê cấp tỉnh; các Phòng Thống kê huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Giai
đoạn 1976-1985 tổ chức bộ máy của Ngành tương đối hoàn thiện, ngành Thống kê
tập trung vào việc nghiên cứu xây dựng các chế độ ghi chép ban đầu và hạch toán
thống nhất; tăng cường hoạt động xét duyệt và công bố hoàn thành kế hoạch; củng
cố chế độ báo cáo ước tính và báo cáo chính thức, đồng thời mở rộng hình thức
thu thập thông tin bằng điều tra thống kê, nhất là điều tra cơ bản phục vụ xây
dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (1976-1980;1981-1985). Năm 1979
cũng là năm đầu tiên nước ta thực hiện Tổng điều tra dân số trên phạm vi cả
nước.
Từ năm 1986 đến nay, sau
34 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đã tạo ra cho đất nước thế và lực
mới, ngành Thống kê cũng đã có những bước chuyển mình đáng ghi nhớ.
Về
môi trường pháp lý,
sự ra đời của Pháp lệnh Kế toán và Thống kê vào năm 1988 và tiếp theo là Luật
Thống kê năm 2003 và Luật Thống kê (sửa đổi) năm 2015 cùng hệ thống các văn bản
quy phạm pháp luật khác đã tạo nên khung pháp lý hết sức quan trọng và ngày
càng hoàn thiện, giúp cho hoạt động thống kê từng bước đi vào nền nếp và hội
nhập. Đặc biệt, Luật Thống kê năm 2015 đã được xây dựng và thông qua với nhiều
điểm mới nhằm điều chỉnh một cách đầy đủ các hoạt động thống kê phát sinh trong
đời sống kinh tế - xã hội. Thông qua Luật thống kê năm 2015, vai trò, vị thế
của hệ thống thống kê tập trung được nâng cao đáng kể.
Cùng với hệ thống các văn bản pháp
lý, Định hướng phát triển ngành Thống kê Việt Nam đến năm 2010 và Chiến lược
phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 tạo
nền móng vững chắc, có tầm nhìn dài hạn, có quan điểm và mục tiêu phát triển rõ
ràng, có các giải pháp và chương trình hành động cụ thể đảm bảo cho ngành Thống
kê phát triển bài bản trong thời kỳ dài. Chính Định hướng và Chiến lược phát
triển Thống kê Việt Nam và các đề án tổng thể khác đã hội tụ được sức mạnh và
sự quan tâm của cả hệ thống chính trị, các ngành, các cấp trong việc củng cố và
xây dựng ngành Thống kê trong những năm vừa qua.
Về
hệ thống tổ chức,
đây là thời kỳ ngành Thống kê có nhiều thay đổi. Ngày 12/12/1987, Ban Bí thư
Trung ương và Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng ra Thông báo số 46/TB-TW về việc sắp
xếp lại tổ chức bộ máy của các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể. Thực hiện
Thông báo trên, Tổng cục Thống kê chuyển giao bộ máy thống kê cấp tỉnh, cấp
huyện sang Ủy ban nhân dân cùng cấp quản lý. Hàng năm, Tổng cục Thống kê chỉ
giao kế hoạch thông tin và quản lý, hướng
dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với các Cục Thống kê địa phương. Tuy nhiên, mô
hình tổ chức này đã làm công tác thống kê có bước thụt lùi nhất định.
Trước thực tế đó, để bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất về
nghiệp vụ thống kê từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm tính độc lập về nghiệp
vụ và tính khách quan của số liệu, sau 7 năm thực hiện mô hình “phi tập trung”,
năm 1994, Chính phủ đã quy định Tổng cục Thống kê trở lại mô hình quản lý theo
ngành dọc và duy trì đến ngày nay. Những năm gần đây, thực hiện cải cách hành
chính của Chính phủ, cơ quan Thống kê Trung ương và các cơ quan Thống kê địa
phương đã được sắp xếp, tổ chức lại. Ngày 04/01/2007, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 01/NĐ-CP chuyển Tổng cục Thống kê vào Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giao
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện công tác quản lý đối với Tổng cục
Thống kê. Điểm nổi bật trong giai
đoạn này là việc hình thành Chi
cục Thống kê cấp huyện trực thuộc Cục Thống kê cấp tỉnh trên cơ sở các Phòng
Thống kê đã đưa vị thế, vai trò và năng lực của các chi cục thống kê lên một
tầm mới.
Vị trí, nhiệm vụ của hệ thống thống kê các bộ, ngành cũng
được xác định trong Luật Thống kê, các
văn bản pháp quy khác và được cụ thể hóa bằng Nghị định số 03/2010/NĐ-CP ngày
13/01/2010 của Chính phủ về qui định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Thống kê bộ, ngành. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành đã tổ chức lại cơ quan, đơn vị
và bố trí công chức làm công tác thống kê theo hướng ngày càng chuyên môn hóa.
Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số
10/2020/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Tổng cục Thống kê. Những thay đổi toàn diện từ trung ương tới địa phương về cơ
cấu tổ, ngành Thống kê đang đồng hành cùng chính sách đổi mới hệ thống chính
trị của quốc gia nhằm nâng cao tính năng động, hiệu quả trong chặng đường tiếp
theo của thế kỷ 21.
Về
chuyên môn, nghiệp vụ thống kê,
việc chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối mở cửa, hội nhập đã đòi hỏi
ngành Thống kê phải đổi mới trên mọi mặt, để đáp ứng ngày càng toàn diện yêu
cầu đánh giá và dự báo tình hình trong nước và thế giới. Tất cả các mặt công
tác của hoạt động thống kê đều được đổi mới, gồm: (1) Đổi mới các hệ thống chỉ
tiêu thống kê, (2) Đổi mới phương pháp thu thập, xử lý và truyền đưa thông tin,
(3) Đổi mới phân loại và phân ngành trong thống kê, (4) Đổi mới nội dung và
phương pháp thống kê doanh nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm, các loại hình khu
kinh tế, (5) Đổi mới công tác phân tích và dự báo thống kê, (6) Bổ sung các nội
dung thống kê mới.
Ngành Thống kê đã tập trung vào việc chuyển đổi phương
pháp luận phù hợp với yêu cầu của đổi mới và hội nhập quốc tế. Trong thời kỳ
này, một trong những bước tiến quan trọng nhất là chuyển đổi hệ thống bảng cân
đối vật chất (MPS) sang hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) từ năm 1993 và liên
tục cập nhật, bổ sung. Việc biên soạn các chỉ tiêu thống kê tổng hợp như GDP,
GNP,... được thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau để có tính so sánh, đối
chiếu. Phương pháp biên soạn chỉ tiêu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương cũng được đổi mới, chuẩn bị đưa vào áp dụng chính
thức. Nhiều chuyên ngành thống
kê được nghiên cứu, chuyển đổi theo hướng vận dụng các phương pháp luận chuẩn
quốc tế vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Việc phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp và đổi
mới về chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần cũng như áp dụng SNA đòi
hỏi sự đổi mới tương ứng về phân loại thống kê, phân ngành thống kê. Nhiều bảng danh mục chuẩn quốc tế đã được
nghiên cứu áp dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam như Hệ thống ngành kinh tế
quốc dân, Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam, Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu
Việt Nam...
Với sự chuyển đổi mạnh mẽ của cơ
chế quản lý kinh tế và yêu cầu mới của việc lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý đất nước
trong nền kinh tế thị trường với nhiều khái niệm mới, nội dung mới, các hệ
thống chỉ tiêu thống kê ở cấp quốc gia cũng như các cấp quản lý ngành, lĩnh vực
và địa phương đã được đổi mới toàn diện. Mới đây nhất là Hệ thống chỉ tiêu
thống kê quốc gia lần đầu tiên được Quốc hội thông qua trong Luật Thống kê năm
2015 với 186 chỉ tiêu thống kê thay thế cho hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia
được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày
02/6/2010. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư quy định nội
dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; danh mục và nội dung Hệ thống chỉ
tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã.
Việc đổi mới và hoàn thiện phương
pháp thu thập thông tin cũng đạt được những kết quả khả quan. Trong đó bước
chuyển biến rõ nhất là sử dụng điều tra thống kê, nhất là điều tra chọn mẫu
thay thế hình thức thu thập thông tin qua chế độ báo cáo thống kê là hình thức
phổ biến trong giai đoạn trước đây. Các cuộc điều tra chủ yếu do ngành Thống kê
tiến hành đã được sắp xếp theo kế hoạch, trong đó các cuộc Tổng điều tra như:
Tổng điều tra dân số và nhà ở, Tổng điều tra kinh tế và Tổng điều tra nông
thôn, nông nghiệp đã được Luật hóa trong Luật thống kê năm 2015; các cuộc điều
tra thống kê quan trọng khác trên các lĩnh vực được thực hiện hàng năm theo kế
hoạch, qua đó tạo điều kiện chủ động cho khâu chuẩn bị, triển khai và công bố
thông tin của Ngành. Việc thu thập thông tin thống kê từ nguồn dữ liệu hành
chính đã chính thức được quy định trong Luật thống kê năm 2015. Thông tư
03/2020/TT-BKHĐT ngày 31 tháng 3 năm 2020 đã ban hành quy định Quy trình kiểm
tra việc sử dụng số liệu, thông tin thống kê nhà nước.
Về xử lý, tổng hợp và phân tích của ngành Thống kê
cũng đã được đổi mới theo hướng tin học hoá. Ngay từ ngày đầu đổi mới, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 28/1988/CT-TTg năm 1988 về tăng cường và
hiện đại hóa công tác thống kê, trong đó chỉ rõ: “Phát triển công nghệ thông
tin, xây dựng các cơ sở dữ liệu và mạng thông tin thống kê trong phạm vi cả
nước, bảo đảm việc truyền dẫn và khai thác số liệu thống kê được thuận lợi”. Từ
đó đến nay, việc đầu tư công nghệ và ứng dụng trong hoạt động thống kê đã có
bước phát triển nhảy vọt. Đặc biệt, lần đầu tiên ngành Thống kê đã áp dụng
thành công công nghệ nhận dạng ký tự thông minh vào xử lý số liệu Tổng điều tra
dân số và nhà ở năm 2009, tiếp đó là Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và
thủy sản năm 2011, Điều tra Dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2014. Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 là cuộc Tổng điều
tra đầu tiên ứng dụng triệt để công nghệ thông tin trong tất cả công đoạn của Tổng
điều tra. Việt Nam là nước đầu tiên và duy nhất cho đến thời điểm
hiện nay sử dụng thiết bị di động của điều tra viên thống kê cho công tác thu
thập thông tin với nhiều chủng loại thiết bị khác nhau mà vẫn đem lại thành
công với chi phí thấp. 2020 là năm đầu
tiên Điều tra doanh nghiệp được tiến hành thu thập thông tin theo phương pháp
điều tra trực tuyến. Các phương thức điều tra trên sẽ tiếp tục được triển khai
trong các cuộc điều tra, tổng điều tra trong những năm tiếp theo. Việc ứng dụng và phát triển các phần mềm
chuyên dùng đã góp phần đẩy nhanh tốc độ xử lý thông tin, tăng độ chính xác của
thông tin tổng hợp và giảm cường độ lao động cho cán bộ thống kê các cấp. Cơ sở
dữ liệu của các cuộc Tổng điều tra, điều tra lớn được lưu giữ tốt, đảm bảo cho
việc khai thác chi tiết hơn và sử dụng số liệu lâu dài. Giai đoạn 2012-2017 Tổng cục
trang bị gần 2000 máy tính để bàn phân bổ trong toàn ngành đáp ứng gần 70% yêu
cầu thay thế sử dụng trong vòng 5 năm và 100% máy tính sử dụng trong vòng 10
năm.
Với quan điểm đổi mới vừa phục vụ tốt sự lãnh đạo,
điều hành của Đảng, Quốc hội và Nhà nước vừa “Hướng về người dùng tin”, trong
những năm qua đối tượng sử dụng thông tin thống kê đã được mở rộng, lượng thông
tin cung cấp cho mỗi đối tượng dùng tin cũng không ngừng tăng lên, hình thức
phổ biến thông tin ngày càng đa dạng. Đến nay, hầu hết các loại số liệu thống
kê đã được cung cấp đến tất cả các đối tượng có nhu cầu sử dụng bằng nhiều kênh
phổ biến thông tin khác nhau. Các sản phẩm thống kê ngày nay không chỉ các ấn
phẩm định dạng sách in, mà còn ở hình thức ấn phẩm khai thác online, các đĩa mềm,
đĩa CD và file dữ liệu trên trang web. Những năm gần đây, ngành Thống kê còn
tăng cường nhiều hình thức phổ biến thông tin khác nhau như họp báo công bố số
liệu, thông cáo báo chí, định dạng infographic cho thông tin và các cuộc điều
tra, và phổ biến qua Trang thông tin điện tử Tổng cục Thống kê,... Tổng cục
Thống kê cũng đã tham gia hệ thống phổ biến số liệu chung (GDDS) với tư cách là
điều phối viên quốc gia. Chính sách phổ biến thông tin thống kê Nhà nước được
Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 34/2013/QĐ-TTg đã đưa công tác
này từng bước đi vào quy củ.
Về hợp tác quốc tế
Thực hiện đường lối đối ngoại mở
rộng của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới, quan hệ hợp tác giữa Thống kê
Việt Nam với thống kê của các quốc gia và các tổ chức quốc tế đã ngày càng được
mở rộng. Tổng cục Thống kê đã tham gia tích cực vào các hoạt động về thống kê
của các tổ chức quốc tế như Thống kê LHQ (UNSD), chủ động tích cực tham gia và
thường xuyên có những đóng góp quan trọng để thúc đẩy hoạt động thống kê khu
vực ASEAN, ESCAP, Đông Á. Năm 2010, đảm nhận vai trò là Chủ tịch ASHOM 11, Tổng
cục Thống kê đã tổ chức thành công Hội nghị thủ trưởng các cơ quan thống kê
quốc gia khu vực Đông Nam Á và từ đó đã đăng cai và tổ chức thành công nhiều
hội nghị quốc tế quan trọng như Hội nghị Hiệp hội thống kê quốc tế chính thức
IAOS năm 2014, Hội nghị Thống kê Nông nghiệp Châu Á-Thái Bình Dương,.... Thống
kê Việt nam đã chính thức gia nhập Hệ thống thống kê Cộng đồng ASEAN kể từ năm 2016. Năm 2020, Việt Nam vinh dự lần
thứ 2 giữ vai trò là Chủ tịch ASEAN về thống kê.
Thống kê Việt Nam đã nhận được sự
giúp đỡ của cộng đồng quốc tế về chuyên môn, nghiệp vụ và cơ sở vật chất, trong
đó phải kể đến các dự án hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức Quốc tế: UNFPA, UNDP,
UNIDO, FAO, UNESCO, UNICEF, ILO, các định chế Tài chính như WB, ADB, IMF… Tổng
cục Thống kê đã có những hợp tác song phương chặt chẽ với Thống kê nhiều nước
trên thế giới, các nước có nền thống kê phát triển như Thụy Điển, Cộng hoà Pháp,
Hà Lan, Đan Mạch, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc,...; tiếp tục quan hệ chặt chẽ và
có hiệu quả với các bạn bè truyền thống như cơ quan thống kê các nước: CHLB
Nga, Ba Lan, Cộng hoà Séc, Slovakia, Hunggary, CHDCND Lào, Vương quốc
Cam-pu-chia,...
Việc tích cực chủ động hợp tác và
hội nhập quốc tế đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực Thống kê
Việt Nam, làm tiền để để Thống kê Việt Nam hoàn thành tốt nghĩa vụ là thành
viên của Thống kê Liên hợp quốc, đáp ứng yêu cầu phục vụ số liệu của các tổ
chức quốc tế cũng như yêu cầu phục vụ số liệu cho các Đại sứ quán, các cơ quan
đại diện nước ngoài và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam. Nhờ vậy, vị thế của
Thống kê Việt Nam trong cộng đồng quốc tế đã được nâng lên một cách rõ rệt.
Theo đánh giá năng lực thống kê của các cơ quan thống kê do Ngân hàng Thế giới
công bố, Năm 2015, Thống kê Việt Nam đã đạt 82,22 điểm, đúng thứ 26 trên tổng
số 144 quốc gia được đánh giá và đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á.
Trải qua 74 năm xây dựng và phát
triển, ngành Thống kê Việt Nam đã và đang khẳng định
được vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin thống kê phục vụ lãnh đạo
Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp nhằm đánh giá, dự báo tình hình, hoạch
định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và
đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân. Những thông tin
thống kê do Tổng cục Thống kê công bố, cung cấp là nguồn thông tin chính thống,
có tính pháp lý, được các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân trong nước và
quốc tế tin cậy, sử dụng.