Thông
cáo báo chí Kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019
Tổng điều tra
dân số và nhà ở năm 2019 được tiến hành vào thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2019 theo Quyết định số
772/QĐ-TTg ngày 26/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là cuộc Tổng điều tra
dân số và nhà ở lần thứ năm ở Việt Nam kể
từ khi đất nước thống nhất vào năm 1975. Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 thu
thập thông tin cơ bản về dân số và nhà ở trên toàn bộ lãnh thổ nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam phục vụ hoạch định các chính sách phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước và giám sát các Mục tiêu phát triển bền vững. Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 thu thập thông tin cơ bản về dân số và
nhân khẩu học của trên 96,2 triệu người là nhân khẩu thực tế thường
trú tại gần 26,9 triệu hộ dân cư sinh
sống trên lãnh thổ Việt Nam vào thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2019. Để bổ sung thông
tin đánh giá những biến động về nhân khẩu học như tình hình sinh, chết, di cư
của người dân, thông tin về lao động việc làm, điều kiện sống của các hộ dân cư và một số thông tin khác, điều tra mẫu
trong Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 được thực hiện với quy
mô mẫu 9% hộ dân cư trên cả nước (khoảng 8,2 triệu người sinh sống tại hơn 2,3
triệu hộ dân cư). Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 ứng dụng công nghệ
thông tin trong tất cả các công đoạn của Tổng điều tra giúp nâng cao chất lượng
thông tin, minh bạch quá trình sản xuất thông
tin thống kê, rút ngắn thời gian xử lý để công bố sớm kết quả Tổng điều tra và
tiết kiệm kinh phí so với các cuộc điều tra và Tổng điều tra theo phương pháp
điều tra truyền thống.
Một số chỉ tiêu chính về kết quả
Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019:
(1) Tổng số dân của Việt Nam là
96.208.984 người, trong đó, dân số nam là 47.881.061 người, chiếm 49,8% và dân
số nữ là 48.327.923 người, chiếm 50,2%. Việt Nam là quốc gia đông dân thứ ba
trong khu vực Đông Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-li-pin) và thứ 15 trên thế
giới[1].
Sau 10 năm, quy
mô dân số Việt Nam tăng thêm 10,4 triệu người. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm
giai đoạn 2009 - 2019 là 1,14%/năm, giảm nhẹ so với giai đoạn 1999 - 2009
(1,18%/năm).
(2) Tổng số hộ dân cư trên cả nước
là 26.870.079 hộ dân cư, tăng 4,4 triệu hộ so với cùng thời điểm năm 2009. Bình
quân mỗi hộ có 3,6 người/hộ, thấp hơn 0,2 người/hộ so với năm 2009. Trong giai
đoạn 2009 - 2019, tỷ lệ tăng bình quân số hộ dân cư là 1,8%/năm, thấp hơn 1,2
điểm phần trăm so với giai đoạn 1999 - 2009 và là giai đoạn có tỷ lệ tăng số hộ
dân cư thấp nhất trong vòng 40 năm qua.
(3) Mật độ dân số của Việt Nam là
290 người/km2, tăng 31 người/km2 so với năm 2009.
Việt Nam là quốc gia có mật độ dân số đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, sau
Phi-li-pin (363 người/km2) và Xin-ga-po (8.292 người/km2)[2].
Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ
là hai vùng có mật độ dân số cao nhất toàn quốc, tương ứng là 1.060 người/km2 và
757 người/km2. Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là hai
vùng có mật độ dân số thấp nhất, tương ứng là 132 người/km2 và
107 người/km2.
(4) Tỷ số giới
tính của dân số là 99,1 nam/100 nữ. Trong đó, tỷ số giới tính khu vực thành thị là 96,5 nam/100 nữ,
khu vực nông thôn là 100,4 nam/100 nữ. Tỷ
số giới tính có sự khác biệt theo các nhóm tuổi, tuổi càng cao tỷ số giới tính
càng thấp, cao nhất ở nhóm 0-4 tuổi (110,3 nam/100 nữ) và thấp nhất ở nhóm
từ 80 tuổi trở lên (48,6 nam/100 nữ). Tỷ
số giới tính gần như cân bằng ở nhóm 45-49 tuổi (100,2 nam/100 nữ) và bắt đầu giảm xuống dưới 100 ở nhóm
50-54 tuổi (95,9 nam/100 nữ).
(5) Đồng bằng sông Hồng là nơi tập
trung dân cư lớn nhất của cả nước với 22,5 triệu người, chiếm 23,4% tổng dân số
cả nước. Tây Nguyên là nơi có ít dân cư sinh sống nhất với 5,8 triệu người,
chiếm 6,1% dân số cả nước. Giai đoạn 2009 - 2019, Đông Nam Bộ có tỷ lệ tăng dân
số bình quân cao nhất cả nước, 2,37%/năm; Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ tăng
dân số bình quân thấp nhất, 0,05%/năm.
(6) Dân số thuộc dân tộc Kinh là
82.085.826 người, chiếm 85,3%. Trong 53 dân tộc thiểu số, 6 dân tộc có dân số
trên 1 triệu người là: Tày, Thái, Mường, Mông, Khmer, Nùng (trong đó dân tộc
Tày có dân số đông nhất với 1,85 triệu người); 11 dân tộc có dân số dưới 5
nghìn người, trong đó Ơ Đu là dân tộc có dân số thấp nhất (428 người). Địa bàn
sinh sống chủ yếu của người dân tộc thiểu số là vùng Trung du và miền núi phía
Bắc và Tây Nguyên.
(7) Đến thời điểm Tổng điều tra năm
2019, có 16 tôn giáo được phép hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Tổng số có
13,2 triệu người theo tôn giáo, chiếm 13,7% tổng dân số cả nước. Trong đó, số
người theo “Công giáo” là đông nhất với 5,9 triệu người, chiếm 44,6% tổng số
người theo tôn giáo và chiếm 6,1% tổng dân số cả nước. Tiếp đến là số người theo
“Phật giáo” với 4,6 triệu người, chiếm 35,0% tổng số người theo tôn
giáo và chiếm 4,8% dân số cả nước. Các tôn giáo còn lại chiếm tỷ trọng nhỏ.
(8) Hầu hết trẻ em dưới 5 tuổi được
đăng ký khai sinh, đạt 98,8%. Kết quả này đã vượt mục tiêu về đăng ký khai sinh
của Chương trình hành động quốc gia về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn
2017 - 2024 (mục tiêu đến năm 2020 có 97% trẻ em dưới 5 tuổi được đăng ký khai
sinh).
(9) Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên
đã từng kết hôn là 77,5%. Có vợ/có chồng là tình trạng hôn nhân phổ biến với
69,2% dân số từ 15 tuổi trở lên đang có vợ/chồng. Tuổi kết hôn trung bình lần
đầu là 25,2 tuổi, tăng 0,7 tuổi so với năm 2009, trong đó nam giới kết hôn muộn
hơn nữ giới 4,1 năm (tương ứng là 27,2 tuổi và 23,1 tuổi).
(10) Cả nước có 9,1% phụ nữ trong độ
tuổi từ 20-24 kết hôn lần đầu trước 18 tuổi. Trung du và miền núi phía Bắc và
Tây Nguyên là hai vùng có tỷ lệ phụ nữ từ 20-24 tuổi kết hôn lần đầu trước 18
tuổi cao nhất cả nước, lần lượt là 21,5%, 18,1%.
(11) Tỷ lệ người từ 5 tuổi trở lên
bị khuyết tật ở Việt Nam là 3,7%. Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là vùng
có tỷ lệ người khuyết tật cao nhất cả nước (4,5%); Tây Nguyên và Đông Nam Bộ là
hai vùng có tỷ lệ người khuyết tật thấp nhất (đều bằng 2,9%).
(12) Tổng tỷ suất sinh (TFR)[3] là 2,09 con/phụ nữ, dưới mức sinh thay thế. Điều này cho
thấy Việt Nam vẫn duy trì mức sinh ổn định trong hơn một thập kỷ qua, xu hướng
sinh hai con ở Việt Nam là phổ biến. TFR của khu vực thành thị là 1,83 con/phụ
nữ; khu vực nông thôn là 2,26 con/phụ nữ. Phụ nữ có trình độ đại học có mức
sinh thấp nhất (1,85 con/phụ nữ), thấp hơn khá nhiều so với phụ nữ chưa bao giờ
đi học (2,59 con/phụ nữ). Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có mức sinh thấp
nhất cả nước (1,39 con/phụ nữ), Hà Tĩnh là tỉnh có mức sinh cao nhất (2,83
con/phụ nữ).
(13) Tình trạng sinh con ở tuổi chưa
thành niên vẫn còn tồn tại ở Việt Nam. Trên phạm vi toàn quốc, phụ nữ chưa
thành niên (từ 10-17 tuổi) sinh con trong 12 tháng trước thời điểm điều tra
chiếm tỷ trọng 3,3‰; cao nhất ở Trung du và miền núi phía Bắc (9,7‰) và Tây
Nguyên (6,8‰). Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ phụ nữ sinh con khi chưa thành niên
thấp nhất (1,1‰).
(14) Tỷ số giới tính khi sinh của
Việt Nam (SRB)[4] có xu hướng tăng hơn so với mức sinh
học tự nhiên từ năm 2006 đến nay. SRB năm 2019 giảm so với năm 2018 nhưng vẫn ở
mức cao (năm 2018: 114,8 bé trai/100 bé gái; năm 2019: 111,5 bé trai/100 bé
gái). Tỷ số này cao nhất ở Đồng bằng sông Hồng (115,5 bé trai/100 bé gái)
và thấp nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (106,9 bé trai/100 bé gái).
(15) Việt Nam đã đạt được nhiều tiến
bộ trong nỗ lực chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em. Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi
và tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi đều giảm mạnh trong vòng hai thập kỷ qua. Tỷ
suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (IMR)[5] là 14 trẻ tử vong trên 1000 trẻ sinh
sống, giảm hơn một nửa so với cách đây 20 năm. Khu vực thành thị có tỷ suất
chết trẻ em dưới 1 tuổi thấp hơn khu vực nông thôn (tương ứng là 8,2 và 16,7
trẻ em tử vong trên 1000 trẻ em sinh sống). Tỷ suất này của trẻ nam cao hơn trẻ
nữ 3,8 điểm phần nghìn (IMR của nam là 15,8, IMR của nữ là 12,0 trẻ tử
vong/1000 trẻ sinh sống).
Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi
(U5MR) của Việt Nam năm 2019 là 21,0 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh
sống, giảm hơn một nửa so với năm 1999 (56,9 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1000
trẻ sinh sống). Tuy vậy, vẫn còn khoảng cách lớn giữa khu vực thành thị và nông
thôn: U5MR của khu vực nông thôn cao gấp hơn hai lần ở khu vực thành thị (tương
ứng là 25,1 và 12,3 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh sống).
Tỷ số tử vong mẹ (MMR)[6] là 46 ca trên 100.000 trẻ sinh sống, giảm 23 ca so với năm
2009. Kết quả này cho thấy Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu về giảm tỷ số tử vong
mẹ sớm hơn so với kế hoạch đề ra trong Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện
Chương trình nghị sự năm 2030 (45 ca/100.000 trẻ sinh sống đến năm 2030).
(16) Tuổi thọ trung bình của người
Việt Nam là 73,6 tuổi; trong đó, tuổi thọ của nam giới là 71,0 tuổi, của nữ
giới là 76,3 tuổi. Từ năm 1989 đến nay, tuổi thọ trung bình của Việt Nam liên
tục tăng, từ 65,2 tuổi năm 1989 lên 73,6 tuổi năm 2019. Chênh lệch về tuổi thọ
trung bình giữa nam và nữ qua hai cuộc Tổng điều tra gần nhất hầu như không
thay đổi, duy trì ở mức khoảng 5,4 năm.
(17) Phần lớn các trường hợp chết
xảy ra trong 12 tháng trước thời điểm Tổng điều tra là do bệnh tật (90,9%).
Ngoài yếu tố bệnh tật, tai nạn giao thông là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tử
vong. Tỷ lệ người chết vì tai nạn giao thông cao gấp gần bốn lần so với tỷ lệ
người chết vì tai nạn lao động (tương ứng là 4,3% và 1,1%). Tỷ lệ chết vì tai
nạn giao thông ở nam giới cao gấp hơn ba lần ở nữ giới (5,9% so với 1,8%).
(18) Mặc dù dân số liên tục tăng
nhưng di cư đang có dấu hiệu giảm cả về số lượng và tỷ lệ. Người di cư có xu
hướng lựa chọn điểm đến di cư trong phạm vi quen thuộc của họ. Trong số 88,4
triệu dân từ 5 tuổi trở lên, số người di cư là 6,4 triệu người, chiếm 7,3%.
Trong đó, di cư giữa các tỉnh chiếm tỷ lệ lớn nhất, 3,2%, cao hơn di cư trong
huyện (2,7%) và di cư giữa các huyện (1,4%).
Đông Nam Bộ là điểm đến thu hút nhất
đối với người di cư, tiếp đến là Đồng bằng sông Hồng. Có đến 1,3 triệu người
nhập cư đến vùng Đông Nam Bộ, chiếm hơn hai phần ba tổng số người di cư giữa
các vùng trên cả nước. Phần lớn người nhập cư đến Đông Nam Bộ là người của vùng
Đồng bằng sông Cửu Long (710,0 nghìn người, chiếm 53,2%); phần lớn người nhập
cư đến Đồng bằng sông Hồng là những người đến từ vùng Trung du và miền núi phía
Bắc (209,3 nghìn người, chiếm 61,2%).
(19) Toàn quốc có 12 tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương có tỷ suất di cư thuần dương, nghĩa là người nhập cư
nhiều hơn người xuất cư. Trong đó, tỉnh Bình Dương có tỷ suất di cư thuần dương
cao nhất (200,4‰) với hơn 489 nghìn người nhập cư nhưng chỉ có khoảng 38 nghìn
người xuất cư khỏi tỉnh này trong 5 năm trước. Như vậy, cứ 5 người từ 5 tuổi
trở lên ở tỉnh Bình Dương thì có 1 người đến từ tỉnh khác. Tiếp theo là Bắc
Ninh, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng với tỷ suất di cư thuần lần lượt là
85,3‰, 75,9‰ và 68,4‰.
Tìm việc/bắt đầu công việc mới hoặc
theo gia đình/chuyển nhà là những lý do di cư chủ yếu. Có 43,0% người di cư
đang phải sống trong các căn nhà thuê mượn, gấp gần tám lần tỷ lệ này của người
không di cư. Các địa phương có nhiều khu công nghiệp thu hút đông lao động phổ
thông là những nơi có tỷ lệ người di cư phải thuê/mượn nhà cao nhất, như: Bắc
Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ. Trong đó, Bình Dương là tỉnh có tỷ lệ người
di cư phải thuê/mượn nhà cao nhất cả nước (74,5%). Bên cạnh đó, một số địa
phương khác cũng có tỷ lệ này khá cao (từ 40-50%) bao gồm: Thái Nguyên, Hưng
Yên, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh và Long An.
(20) Dân số thành thị là 33.122.548 người,
chiếm 34,4% tổng dân số cả nước. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm khu vực thành
thị giai đoạn 2009 - 2019 là 2,64%/năm, gấp hơn hai lần tỷ lệ tăng dân số bình
quân năm của cả nước và gấp sáu lần so với tỷ lệ tăng dân số bình quân năm khu
vực nông thôn cùng giai đoạn. Tốc độ tăng dân số thành thị bình quân năm giai
đoạn 2009 - 2019 thấp hơn tốc độ tăng dân số thành thị của giai đoạn 1999 -
2009 (3,4%/năm). Yếu tố di cư góp phần làm dân số khu vực thành thị tăng thêm
1,2 triệu người, chiếm 3,5% dân số thành thị; sự “chuyển mình” từ xã thành
phường/thị trấn của nhiều địa phương trong cả nước góp phần chuyển 4,1 triệu
người đang là cư dân nông thôn thành cư dân thành thị, tương đương 12,3% dân số
thành thị của cả nước năm 2019.
Như vậy, Việt Nam không đạt được cả
hai mục tiêu về đô thị hoá đến năm 2015 và 2020 theo Chương trình phát triển đô
thị quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt[7] trên khía cạnh về tỷ lệ dân số khu vực thành thị.
(21) Trong 10 năm qua, giáo dục phổ
thông đã có sự cải thiện rõ rệt về việc tăng tỷ lệ đi học chung và đi học đúng
tuổi. Trong đó, bậc trung học phổ thông có sự cải thiện rõ ràng nhất. Tỷ lệ đi
học chung của cấp tiểu học là 101,0%, cấp trung học cơ sở (THCS) là 92,8% và
trung học phổ thông (THPT) là 72,3%. Tỷ lệ đi học đúng tuổi các cấp này lần
lượt là 98,0%, 89,2% và 68,3%.
Việt Nam hiện có 8,3% trẻ em trong
độ tuổi đi học phổ thông nhưng không đến trường, giảm 12,6 điểm phần trăm so
với năm 1999 và giảm 8,1 điểm phần trăm so với năm 2009 (năm 1999: 20,9%; năm
2009: 16,4%). Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường ở khu vực nông thôn cao hơn gần hai
lần khu vực thành thị (9,5% so với 5,7%). Cấp học càng cao, tỷ lệ này càng lớn:
Cấp tiểu học, cứ 100 em trong độ tuổi đi học cấp tiểu học thì có khoảng 1 em
không được đến trường; con số tương ứng ở cấp THCS là gần 7 em, ở cấp THPT là
26 em.
(22) Hơn một phần ba dân số từ 15
tuổi trở lên đạt trình độ học vấn từ THPT trở lên (36,5%), tăng gần hai lần so
với năm 2009 (20,8%). Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có trình độ này của khu
vực thành thị cao hơn hai lần so với khu vực nông thôn (lần lượt là 54,0% và
27,0%).
(23) Toàn quốc có 80,8% dân số từ 15
tuổi trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật[8] (CMKT). Tỷ lệ dân số có CMKT đã tăng
5,9 điểm phần trăm so với năm 2009.
(24) Gần 88% dân số trong độ tuổi từ
25-59 tham gia lực lượng lao động; trong đó tỷ trọng dân số tham gia lực lượng
lao động cao nhất ở nhóm tuổi 25-29 (14,3%) và giảm nhẹ ở nhóm 30-34 (14,2%).
Dân số ở nhóm tuổi trẻ (nhóm 15-19 tuổi và nhóm 20-24 tuổi) và nhóm tuổi già
(từ 60 tuổi trở lên) đều chiếm
tỷ trọng tham gia lực lượng lao động thấp (dưới 10%).
(25) Lực lượng lao động đã tốt
nghiệp THPT trở lên chiếm 39,1%, tăng 13,5 điểm phần trăm so với năm 2009; đã
được đào tạo có bằng, chứng chỉ (từ sơ cấp trở lên) chiếm 23,1% (ở khu vực
thành thị cao gấp 2,5 lần khu vực nông thôn, tương ứng là 39,3% và 15,6%).
Tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào
tạo có bằng, chứng chỉ cao nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng (31,8%) và Đông Nam
Bộ (27,5%); thấp nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (13,6%).
(26) Tỷ lệ thất nghiệp của dân số từ
15 tuổi trở lên ở mức thấp, 2,05%. Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực nông thôn thấp
hơn gần hai lần so với khu vực thành thị (tương ứng là 1,64% và 2,93%). Hầu hết
người thất nghiệp có độ tuổi từ 15-54 (chiếm 91,7% người thất nghiệp). Lao động
trẻ từ 15-24 tuổi là những người thất nghiệp nhiều nhất, chiếm gần một nửa tổng
số lao động thất nghiệp cả nước (44,4%).
(27) Giai đoạn 2009 - 2019, tỷ trọng
việc làm theo ngành có sự dịch chuyển rất tích cực theo hướng giảm tỷ trọng lao
động trong khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản và tăng tỷ trọng lao động trong
khu vực Công nghiệp, xây dựng và Dịch vụ. Tỷ trọng lao động có việc làm trong
khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm liên tục trong những năm qua, từ
53,9% năm 2009 xuống còn 46,3% năm 2014 và đạt 35,3% vào năm 2019. Lần đầu
tiên, số lao động làm việc trong khu vực Dịch vụ cao hơn số lao động làm việc
trong khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản vào năm 2019. Với đà chuyển dịch
này, tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực Công nghiệp và Dịch vụ sẽ sớm đạt
ngưỡng 70% như mục tiêu đề ra trong Nghị quyết số 23/NQ-TW ngày 22/3/2018 của
Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia
đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
(28) Nhóm nghề lao động giản đơn thu
hút nhiều nhân lực nhất trong nền kinh tế với tỷ lệ 33,2%. So với 10 năm trước
đây, tỷ trọng lao động làm công việc giản đơn đã giảm mạnh (giảm 7,1 điểm phần
trăm). Các nhóm “dịch vụ cá nhân, bảo vệ và bán hàng”, “thợ thủ công và các thợ
khác có liên quan” và “thợ lắp ráp và vận hành máy móc thiết bị” cũng là những
nhóm nghề thu hút nhiều lực lượng lao động, tương ứng là 18,3%, 14,5% và 13,2%
tổng số lao động đang làm việc.
(29) Tại thời điểm 0 giờ ngày
01/4/2019, đa số các hộ dân cư đều có nhà ở và đang sống trong những ngôi nhà
kiên cố hoặc bán kiên cố. Chỉ còn 1.244 hộ không có nhà để ở (chiếm 0,47 phần
mười nghìn tổng số hộ), tương đương với 4.108 người. Đa số hộ không có nhà ở là
những hộ sống ở ghe, thuyền,… không đủ điều kiện về cấu tạo của ngôi nhà/căn hộ
để ở (ba bộ phận: tường, mái, sàn). Ngoài ra, có 310 người lang thang cơ nhỡ
tại 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được thu thập thông
tin trong cuộc Tổng điều tra này, đây là những người không có nhà ở[9]. Như vậy, có tổng số 4.418 người hiện không có nhà ở trên
toàn quốc. Sau 10 năm, tình trạng hộ không có nhà ở đã giảm 10 lần, từ mức 4,7
phần mười nghìn năm 2009 xuống còn 0,47 phần mười nghìn năm 2019. Tỷ lệ hộ sống
trong những ngôi nhà thiếu kiên cố hoặc đơn sơ chiếm một phần nhỏ (6,9%), giảm
8,2 điểm phần trăm so với năm 2009. Tỷ lệ này ở khu vực nông thôn cao hơn
gần 8 điểm phần trăm so với khu vực thành thị (lần lượt là 9,7% và 1,8%).
(30) Diện tích nhà ở bình quân đầu người
là 23,2m2/người, tăng 6,5m2/người so với năm 2009. Khoảng
hơn một phần ba số hộ (chiếm 34,4%) sống trong các ngôi nhà/căn hộ có diện tích
bình quân đầu người từ 30m2/người trở lên. Vẫn còn gần 7% hộ dân cư
(tương ứng với khoảng 7,7 triệu người) đang sống trong các ngôi nhà có diện
tích chật hẹp dưới 8m2/người. Trong đó, tỷ lệ hộ sống trong các ngôi
nhà/căn hộ có diện tích bình quân đầu người dưới 8m2 ở Đông Nam
Bộ là cao nhất (16,3%), ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là thấp nhất
(3,8%).
(31) Hiện có 11,7% hộ dân cư đang
sống trong các ngôi nhà/căn hộ đi thuê/mượn, tăng 4,6 điểm phần trăm so với năm
2009 (năm 2009 là 7,1%). Đặc biệt, tại các địa phương đông dân cư và tập trung
nhiều khu công nghiệp, tỷ lệ hộ sống trong các ngôi nhà/căn hộ đi thuê/mượn cao
hơn các địa phương khác như Bình Dương (56,5%), thành phố Hồ Chí Minh (32,8%),
Bắc Ninh (27,0%), Hà Nội (15,8%). Tỷ lệ hộ sống trong những ngôi nhà thuê/mượn
ở khu vực thành thị cao gấp gần 3,5 lần so với khu vực nông thôn.
(32) Đa số các hộ dân cư đang sống
trong các ngôi nhà/căn hộ được xây dựng và bắt đầu đưa vào sử dụng từ năm 2000
đến nay (76,8%, tương đương 20,6 triệu hộ). Trong đó, 37,1% hộ sống trong các
ngôi nhà/căn hộ mới được xây dựng trong vòng 10 năm trước thời điểm Tổng điều
tra (tương ứng khoảng 10 triệu hộ), thấp hơn 1,2 triệu hộ so với năm 2009. Tuy
vậy, trên cả nước vẫn còn gần 195 nghìn hộ (tương ứng 0,7% số hộ có nhà ở) đang
sống trong các ngôi nhà đơn sơ được xây dựng và đưa vào sử dụng lần đầu trong
vòng từ 21 đến 44 năm và trên 19 nghìn hộ (tương ứng 0,07% số hộ có nhà ở) đang
sống trong các ngôi nhà đơn sơ được xây dựng và đưa vào sử dụng lần đầu từ 45
năm trở lên. Điều này cho thấy, mặc dù tình trạng nhà ở của hộ dân cư đã được
cải thiện trong thời gian qua nhưng vẫn còn những hộ phải sống trong các ngôi
nhà có chất lượng kém với tuổi thọ quá dài so với mức độ an toàn theo quy định.
(33) Điều kiện
ở và sinh hoạt của hộ dân cư cũng được cải thiện rõ rệt, có 99,4% hộ sử dụng
điện lưới thắp sáng, tăng 3,3 điểm phần trăm so với năm 2009.
Tỷ lệ hộ dân sử dụng nguồn nước hợp
vệ sinh là 97,4%, trong đó 52,2% hộ sử dụng nguồn nước máy. Tỷ lệ này ở khu vực
thành thị là 99,6%, ở khu vực nông thôn là 96,3%.
Tỷ lệ hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh
(hố xí tự hoại và bán tự hoại) là 88,9%, tăng gần 35 điểm phần trăm
so với năm 2009.
Tiện nghi sinh hoạt của hộ dân cư đã
được cải thiện với 91,9% hộ có sử dụng ti vi; 91,7% hộ có sử dụng điện thoại
(cố định, di động) hoặc máy tính bảng; 30,7% hộ có sử dụng máy vi tính (bao gồm
máy để bàn, laptop).
Ngoài các thiết bị sinh hoạt
nghe nhìn đã đề cập ở trên, các thiết bị phục vụ sinh hoạt cơ bản khác cũng
được phần lớn hộ dân cư sử dụng và tăng đáng kể so với năm 2009. Tăng cao nhất
là tỷ lệ hộ sử dụng tủ lạnh, tăng 48,9% (năm 2009: 31,6%, năm 2019: 80,5%);
tiếp đến là tỷ lệ hộ sử dụng máy giặt, tăng 37,3% (năm 2009: 14,9%, năm 2019:
52,2%) và tỷ lệ hộ sử dụng điều hòa nhiệt độ tăng 25,5% (năm 2009: 5,9%, năm
2019: 31,4%).
Đa số các hộ dân sử dụng phương tiện
giao thông cá nhân có động cơ (mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện, xe máy điện và ô
tô) cho mục đích sinh hoạt của hộ (88%). Tỷ lệ hộ sử dụng phương tiện này ở khu
vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (tương ứng là 91,8% và 85,9%). Các
tỉnh, thành phố có tỷ lệ này cao nhất là thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đà
Nẵng, Tây Ninh (trên 94% tại mỗi tỉnh).
Tổng kết
lại, 10 năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng dưới sự lãnh
đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính
trị và toàn dân, toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành quả quan trọng
trên các lĩnh vực: y tế, giáo dục, việc làm và điều kiện sống của người dân.
Quy mô dân số nước ta tăng với tốc độ chậm hơn so với giai đoạn 10 năm trước.
Trình độ dân trí đã được cải thiện, cơ hội đi học theo đúng độ tuổi quy định
của trẻ em ngày càng được đảm bảo, tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường giảm mạnh; tỷ
lệ dân số có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng mạnh. Sức khỏe của
người dân đặc biệt là sức khỏe của bà mẹ và trẻ em được tăng cường. Tỷ lệ người
khuyết tật giảm; tuổi thọ của người dân tăng cao; tỷ suất chết của trẻ em và tỷ
số tử vong mẹ giảm mạnh. Vấn đề giải quyết việc làm và nâng cao năng lực cạnh
tranh cho người lao động được chú trọng. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đang
diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam theo hướng tăng tỷ trọng lao động trong khu vực Công
nghiệp, xây dựng và Dịch vụ và giảm tỷ trọng lao động trong khu vực Nông, lâm
nghiệp và thủy sản. Nhà ở và điều kiện sống của các hộ dân cư đã được cải thiện
rõ rệt, đặc biệt ở khu vực thành thị. Hầu hết các hộ dân cư đều có nhà ở và chủ
yếu sống trong các loại nhà kiên cố và bán kiên cố; tỷ lệ hộ không có nhà ở
giảm mạnh; tỷ lệ hộ được sử dụng điện lưới và nguồn nước hợp vệ sinh
tăng mạnh; tỷ lệ hộ có các thiết bị sinh hoạt hiện đại phục vụ cuộc sống
cũng tăng cao.
Thành quả trên tạo động lực để chúng
ta hiện thực hóa khát vọng về một đất nước Việt Nam thịnh vượng, phồn vinh và
hạnh phúc./.
[1] Nguồn: Ủy
ban Kinh tế Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương Liên hợp quốc (ESCAP) và Cơ quan
tham vấn dân số (PRB).
[2] Tạp chí
Thống kê: http://statisticstimes.com/demographics/countries-by-population-density.php.
[3] Tổng tỷ suất sinh (TFR) là số con đã sinh ra sống bình quân
của một người phụ nữ trong suốt thời kỳ sinh đẻ (15-49 tuổi), nếu người phụ
nữ đó trong suốt thời kỳ sinh đẻ trải qua Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi
(ASFR) như quan sát được trong thời kỳ nghiên cứu, thường là 12 tháng trước
thời điểm điều tra.
[4] Tỷ số
giới tính khi sinh (SRB) được xác định bằng số bé trai trên 100 bé gái được
sinh ra trong một thời kỳ nghiên cứu, thường là 12 tháng trước thời điểm điều
tra.
[5] Tỷ suất
chết trẻ em dưới 1 tuổi (IMR) là số trẻ em dưới 1 tuổi chết trên 1000 trẻ sinh
sống trong thời kỳ nghiên cứu, thường là 12 tháng trước thời điểm điều tra.
[6] Tỷ số tử
vong mẹ (MMR) là số phụ nữ chết do những nguyên nhân liên quan đến mang thai và
sinh đẻ (không do những nguyên nhân tình cờ như sốt rét, tai nạn, tự tử... ),
đã xảy ra trong thời gian từ khi mang thai cho đến 42 ngày sau đẻ tính bình
quân trên 100.000 trẻ em sinh ra sống trong kỳ nghiên cứu.
[7] Mục tiêu
về đô thị hoá của Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt tại Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 07/11/2012: đến năm 2015 tỷ lệ đô thị
hoá của đạt 38%, đến năm 2020 đạt 45%.
[8] Có trình độ
chuyên môn là người được đào tạo có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên
[9] Người
lang thang, cơ nhỡ được tìm thấy tại 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Thái Bình, Quảng Trị, Phú Yên, Bình Thuận,
Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó tập trung nhiều
nhất ở Bình Dương (107 người) và thành phố Hồ Chí Minh (134 người).
(Nguồn: https://www.asean2020.vn)